Gửi lúc: 06/01/2009 16:02:34
Bookmark and Share

Chiến tranh thông tin - Công cụ xâm lược trong thế kỷ 21 (Phần 2)

Vũ khí thông tin (VKTT) có thể chia ra làm hai loại: vũ khí dựa trên Công nghệ thông tin (CNTT) và vũ khí có tác dụng năng lượng hoặc hóa học.

Ví dụ về VKTT dựa trên năng lượng là: Đạn tự dẫn đường độ chính xác cao, tên lửa có cánh hoặc máy bay không người lái; Các phương tiện trấn áp thông tin vô tuyến điện tử, các bộ tạo sóng tần số cao cực mạnh, các thiết bị tác dụng thông qua mạng điện lực; Các thiết bị tác chiến điện tử trên mặt đất cũng như trong không trung, các máy gây nhiễu dùng một lần; Các thiết bị phát đặc biệt có tác động lên tâm lý của con người.
VKTT dựa trên tác động hóa học gồm các phương tiện: đạn hoá học, chiếu sáng bằng khí đốt, bằng “tro không khí” hoặc là cây sinh học nhân tạo, các phần tử phá hoại máy móc vô tuyến điện, các loại thuốc có dược lý và các cấu trúc đặc biệt, có tác dụng tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống của con người.
Tuy nhiên, triển vọng nhất là sử dụng CNTT với tư cách là VKTT. CNTT là một phần không thể tách rời của các thiết bị đạn dược có độ chính xác cao, bởi vì các loại vũ khí hiện đại được điều khiển bằng hệ thống CNTT.
VKTT truyền thống và toàn năng nhất là phương tiện thông tin đại chúng và thông tin tuyên truyền. Ngoài ra, ngày nay người ta đang khẩn trương tạo ra các VKTT trên cơ sở các mã chương trình phần mềm.
Sử dụng VKTT trên cơ sở mã chương trình có thể thực hiện bằng các biện pháp khác nhau:
- Nhờ sự trợ giúp của các chương trình tự sao tương tự virus; các virus hoàn thiện nhất sử dụng các thuật toán ẩn đối với hệ thống bảo vệ và tự lan truyền vào các mạng thông tin (còn được gọi là “sâu”);
- Với sự hỗ trợ của một loại chương trình thông dụng mà sau khi khởi động nó thì VKTT cũng bắt đầu khởi động;
- Nhờ sự giúp đỡ của các phương tiện lưu trữ thông tin, trong đó có vi mạch lập trình lại được nhúng các chương trình phá hoại, dạng  “ngựa thành Tơroa”;
- Nhờ sự trợ giúp của các mã chương trình được cài đặt từ xa thông qua các cổng thông tin.
Đối tượng và đặc điểm áp dụng VKTT
Tác dụng của VKTT dẫn đến thay đổi cấu trúc hoặc ngừng trệ hoạt động của môi trường thông tin bên trong đối tượng bị tấn công. Sự vượt trội về khả năng sử dụng dạng khác nhau từ kho VKTT so với vũ khí truyền thống được thể hiện ở khả năng lựa chọn rộng rãi chủng loại và quy mô của các thiệt hại tạo ra cho hệ thống thông tin của đối phương khi bị tấn công. Trong đó, khả năng bị tấn công và tính chất của thiệt hại có thể đã diễn ra trong một khoảng thời gian mà đối phương chưa biết được. Đó chính là một trong những ưu thế của VKTT: tính bí mật và bất ngờ. Áp dụng VKTT là sự lựa chọn các dữ liệu đầu vào cho hệ thống, để kích hoạt các thuật toán xác định trong hệ thống hoặc kích hoạt các thuật toán sinh ra những thuật toán này. VKTT ở dạng tổng quát là các thuật toán cho phép thực hiện việc điều khiển có mục đích  một hệ thống thông tin phục vụ lợi ích của hệ thống khác, thực hiện quá trình điều khiển hệ thống thông qua các dữ liệu đầu vào hoặc được xử lý bên trong hệ thống.
Đôi khi, VKTT không phá hoại không gian thông tin, mà lợi dụng chính không gian thông tin của đối phương. VKTT tự hình thành không gian thông tin bị ảnh hưởng bởi nó, vì VKTT bản chất cũng là phương tiện xâm nhập tích cực vào các thành phần của không gian thông tin mới.
VKTT được áp dụng trong các chiến dịch thông tin và thông tin tâm lý là các thiết bị và công nghệ ảnh hưởng tới hoạt động của con người thông qua việc tác động lên ý thức (tâm lý). Trong đó, thông qua các phương tiện đại chúng, hệ thống viễn thông và thông tin tuyên truyền, VKTT tác động lên cấu trúc suy luận của con người, kết quả là trong ý thức của con người sẽ tạo ra hình ảnh mới về thế giới, thường là có lợi cho kẻ tác động. VKTT sử dụng ý tưởng biến đổi môi trường giao tiếp xung quanh đối tượng, để “lập trình lại” hành vi của đối tượng. Trong các chiến dịch thông tin và thông tin – tâm lý, VKTT có thể sử dụng các cách tiếp cận sau:
- Đưa vào các thông tin mới, các tác động thông tin mới mà đối tượng chưa biết; đưa vào các thông tin sai lệch.
- Đưa vào các quy tắc xử lý thông tin mới (bằng cách tạo ra sự nghi ngờ tính đúng đắn của các quy tắc cũ).
VKTT sử dụng trong chiến tranh thông tin chống lại các hệ thống xã hội là các phương tiện, phương pháp, thủ đoạn và công nghệ, dùng để tác động thông tin (tâm lý) lên từng con người và các hệ thống xã hội thông qua ý thức cá nhân và quần chúng theo kênh lan truyền thông tin (ví dụ: tung tin, tuyên truyền,…).

Các đối tượng chính của VKTT có thể là:
- Tài nguyên thông tin quốc gia, các hệ thống liên lạc, điều khiển và ra quyết định.
- Hệ thống an sinh xã hội và phát triển kinh tế quốc gia.
- Hệ thống vũ khí và những cơ quan điều hành quân sự.
- Trí não của con người, ý thức cá nhân và tập thể (quần chúng), các quá trình xã hội.
Mỗi lĩnh vực được liệt kê  trên đây là một phần cơ bản trong hoạt động của cá nhân, quốc gia và xã hội. Hoạt động của những lĩnh vực này có ảnh hưởng mang tính quyết định tới an ninh quốc gia. Bởi vậy, VKTT có khả năng phá hủy tận gốc hoặc làm ngừng trệ hoạt động trong các lĩnh vực trên, là những hiểm họa thực sự đối với an ninh quốc gia.
Chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn các nhân tố tác động của VKTT lên các đối tượng chính, cũng như những hệ quả có thể trong trường hợp sử dụng dạng vũ khí này.
1. Tác động của VKTT lên tài nguyên thông tin quốc gia, các hệ thống liên lạc, điều khiển và ra quyết định.
- Tài nguyên thông tin quốc gia được bảo vệ ở dạng kho tài liệu thông tin hoặc CSDL bị phá hủy hoặc đưa vào các dữ liệu sai, tạo ra sự sai sót  khi làm việc với CSDL, làm vi phạm quy tắc làm việc và dẫn đến hệ quả là phá huỷ thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, tăng khả năng rò rỉ bí mật nhà nước.
- Những hệ thống thông tin viễn thông thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, có thể bị loại bỏ hoặc thay đổi thuật toán chức năng của phần mềm điều khiển hệ thống tổng đài và xử lý tín hiệu; bị thu thập trái phép dữ liệu lưu chuyển trong hệ thống; Tác động lên các giao thức truyền dữ liệu, các thuật toán xác định địa chỉ và định tuyến trong hệ thống truyền dữ liệu; Tạo ra trạng thái khởi động lại hệ thống bằng các truy vấn sai để thiết lập liên lạc; Nhập vào hệ thống các dữ liệu sai. Từ đó dẫn đến các hệ quả là tăng khả năng rò rỉ thông tin bí mật nhà nước, phá hoại chức năng của tổ chức quản lý nhà nước.
- Hệ thống ra quyết định nhà nước chịu các dạng tác động là bị loại bỏ hoặc thay đổi thuật toán chức năng của phần mềm hệ thống thu thập dữ liệu và phân tích xử lý thông tin và Trung tâm tình huống; Đưa vào hệ thống phân tích thông tin và Trung tâm xử lý tình huống các thông tin sai. Từ đó dẫn đến hệ quả là làm giảm chất lượng và tính kịp thời của thông tin trong hệ thống ra quyết định của nhà nước.
- Hệ thống thông tin cho nhân dân về các quyết sách của nhà nước, sẽ bị các tác động tiêu cực lên hệ thống thông tin đại chúng, các trung tâm báo chí, trung tâm liên lạc xã hội. Từ đó dẫn đến hệ quả là tác động tiêu cực lên nhận thức xã hội và định hướng chính trị.
Hệ thống ra quyết định trong tình trạng khẩn cấp sẽ bị há hủy hoặc làm sai lệch hoạt động của những trung tâm thu nhập và phân tích thông tin và hệ thống truyền dữ liệu làm tăng khối lượng thiệt hại về nhân lực, vật lực của đất nước.
2. Tác động của VKTT lên hệ thống an sinh xã hội và phát triển kinh tế của đất nước.
- Các hệ thống hạ tầng thông tin cốt yếu của quốc gia gồm: hệ thống viễn thông công cộng; hệ thống điều khiển các đường ống dẫn dầu và khí đốt; mạng lưới điện; hệ thống điều khiển giao thông; hệ thống phục vụ dự trữ liên bang; hệ thống y tế.
Hậu quả nguy hiểm nhất xuất hiện khi VKTT tấn công lên những hệ thống trên là tạo ra các thảm họa, làm lãng phí tài nguyên quốc gia, tạo ra sự hỗn loạn và rối loạn trong các tổ chức cốt yếu của Nhà nước.
- Hệ thống phát triển kinh tế bao gồm: hệ thống giao dịch ngân hàng và thanh toán điện tử; hệ thống thống kê quốc gia; hệ thống kiểm toán nhà nước, thuế, hải quan, tài chính; hệ thống điều khiển các tập đoàn công nghiệp lớn; hệ thống thị trường chứng khoán.
Hậu quả nguy hiểm nhất của chiến tranh thông tin lên các hệ thống này có thể làm chậm tốc độ phát triển kinh tế của đất nước; phá hoại các tổ chức kinh tế tài chính; làm cho nhà nước đưa ra các quyết sách sai lầm trong lĩnh vực kinh tế; làm giảm niềm tin đối với nền kinh tế Nga trên trường quốc tế; tăng tội phạm trong ngành tài chính và ngân hàng.
3. Tác động của VKTT lên hệ thống vũ khí và các cơ quan điều khiển quân sự
Các đối tượng chính bị tấn công: hệ thống kiểm soát môi trường xung quanh (hệ thống cảnh báo tên lửa, hệ thống kiểm soát vùng trời, không gian và vùng biển); hệ thống hỗ trợ ra quyết định; hệ thống truyền lệnh và điều khiển các lực lượng vũ trang; hệ thống liên lạc; hệ thống điều khiển tự động hóa khí tài và hoạt động của các phân đội trên chiến trường; tài nguyên thông tin.
Tác động của VKTT lên các hệ thống này có thể làm đưa ra các quyết định sai, gây rối loạn khả năng điều hành quân đội, nâng cao khả năng thu tin tình báo của đối phương, gia tăng thiệt hại khi xảy ra chiến tranh.
4. Tác động của VKTT lên trí não của con người, ý thức của cá nhân và tập thể, các hoạt động xã hội
Các đối tượng cơ bản bị tấn công: quan điểm của quần chúng và tâm lý của con người. Các kết quả chính có thể là: tạo ra các chuẩn đạo đức xã hội mới có lợi cho đối phương; gây hận thù sắc tộc, tôn giáo; kích động ly khai; đàn áp ý chí đấu tranh của quần chúng; phá hoại tâm lý của con người

KS. Phạm Quốc Hoàng