THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI HỌC VIỆN KTMM NĂM 2025
Nhận thức rõ vai trò then chốt của KH&CN, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng như Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 về chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đặc biệt là Nghị quyết số 57- NQ/TW năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2045, yêu cầu KH&CN phải trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu. Đối với Học viện, Đề án phát triển được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 189/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 đã xác định rõ mục tiêu: Đến năm 2030 trở thành một trong những trường kỹ thuật, công nghệ hàng đầu Việt Nam và đến năm 2045 trở thành đại học đổi mới sáng tạo thuộc nhóm 1.000 cơ sở giáo dục tiên tiến của thế giới. Đây vừa là động lực, vừa là thước đo năng lực tổ chức của Học viện trong những thập kỷ tới.
.png)
Đội KMA.BlueLight đến từ Học viện KTMM xuất sắc giành giải Nhất Cuộc thi Cyber SEA Game 2025
Trước yêu cầu đó, phát triển KH&CN không còn là nhiệm vụ thường kỳ mà đã trở thành yếu tố quyết định sự phát triển của Học viện. Năm 2025 là năm tiếp tục có nhiều chuyển biến quan trọng trong hoạt động KH&CN của Học viện. Trên cơ sở các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, cùng với yêu cầu của Đề án phát triển Học viện, công tác nghiên cứu khoa học đã có sự thay đổi rõ nét cả về cách tiếp cận, phương thức quản lý và chất lượng triển khai.
Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý: Học viện đã rà soát, ban hành đồng bộ các quy chế về hoạt động KH&CN, Hội đồng Khoa học và Đào tạo, cùng hướng dẫn chế độ làm việc của giảng viên. Đây là nền tảng quan trọng giúp thống nhất quy trình, bảo đảm tính minh bạch và chuyên nghiệp trong toàn hệ thống.
Thứ hai, đổi mới quy trình nghiên cứu: Học viện triển khai 31 đề tài các cấp (01 cấp Quốc gia, 06 cấp Ban, 24 cấp cơ sở). Điểm nổi bật là việc áp dụng phương pháp nghiên cứu “cuốn chiếu” - đánh giá kết quả trung gian để kiểm soát chặt chẽ chất lượng từng chuyên đề. Việc bắt buộc tổ chức hội thảo khoa học cho tất cả đề tài đã tạo môi trường phản biện tích cực, giúp các nhóm nghiên cứu tiệm cận chuẩn mực hiện đại.
Thứ ba, bứt phá trong công bố quốc tế: Trong năm 2025, toàn Học viện có 106 bài báo khoa học, trong đó có 22 bài thuộc danh mục WoS/Scopus (từ Q1 đến Q4). Sự gia tăng về cả số lượng và chất lượng công bố quốc tế minh chứng cho sự nâng tầm năng lực chuyên môn và nỗ lực hội nhập của đội ngũ giảng viên.
Thứ tư, lan tỏa phong trào nghiên cứu trong người học: Hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên, sinh viên đạt kết quả ấn tượng với 41 đề tài, trong đó 07 đề tài xuất sắc đạt giải. Việc tham gia nghiên cứu giúp người học hình thành tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo nền tảng cho những thành tích cao trong các cuộc thi chuyên môn trong và ngoài nước, khẳng định uy tín đào tạo của Học viện.
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, hoạt động KH&CN của Học viện vẫn còn tồn tại một số hạn chế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự thiếu hụt và phân tán nguồn lực tinh hoa: Nhân lực có trình độ cao hiện còn thiếu (với 01 GS, 03 PGS và 38 TS) nhưng đang phải đối mặt với áp lực kép: vừa đảm nhiệm khối lượng giảng dạy lớn, vừa triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu của Ngành. Một bộ phận giảng viên còn hạn chế về phương pháp nghiên cứu, chưa thật sự hình thành niềm đam mê khoa học. Đặc biệt, sự chuyển dịch các cán bộ nghiên cứu trình độ cao sang vị trí quản lý lãnh đạo - một yêu cầu khách quan của tổ chức. Vai trò lãnh đạo đòi hỏi sự bao quát liên tục và xử lý khối lượng công việc lớn, khiến họ khó duy trì nhịp nghiên cứu như trước. Điều này, vô hình trung làm "mỏng" đi lực lượng tinh hoa. Việc thiếu hụt thời gian đầu tư chiều sâu cho các hướng nghiên cứu dài hạn đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu và khả năng hình thành đội ngũ kế cận.
Thứ hai, cơ chế quản lý đề tài vẫn còn nhiều vướng mắc. Số lượng đề tài nhiều nhưng nguồn nhân lực của Học viện còn ít, dẫn tới tình trạng một giảng viên đứng tên thành viên chính/thành viên trong nhiều đề tài tại cùng một thời điểm. Áp lực từ cơ chế quản lý theo thời gian làm việc thay vì khoán theo sản phẩm, kết quả cuối cùng khiến một số thầy cô e ngại khi nhận thêm nhiệm vụ nghiên cứu. Không chỉ vậy, nhiều cán bộ nghiên cứu còn phải dành thời gian đáng kể cho các thủ tục hành chính, làm giảm hiệu quả của quá trình triển khai nhiệm vụ. Điều này đi ngược với tính linh hoạt và sáng tạo vốn là bản chất của hoạt động khoa học.
Thứ ba, hoạt động của các nhóm nghiên cứu chuyên sâu trong Học viện chưa thật sự phát huy hiệu quả như kỳ vọng. Dù đã được hình thành từ nhiều năm nhưng phần lớn các nhóm vẫn vận hành rời rạc, nhỏ lẻ, thiếu sự gắn kết và chưa tạo ra được sản phẩm mang tính chủ lực. Một nguyên nhân quan trọng là chưa có cơ chế hỗ trợ kinh phí phù hợp, khiến các nhóm gặp khó khăn trong việc duy trì tần suất sinh hoạt học thuật, triển khai hướng nghiên cứu dài hạn hay thu hút thành viên trẻ tham gia một cách bền bỉ. Sự thiếu hụt này khiến mô hình nghiên cứu theo nhóm, vốn được coi là hiệu quả nhất trong khoa học hiện đại lại chưa trở thành điểm mạnh của Học viện.
Thứ tư, công tác phối hợp và tham mưu ở một số đơn vị chức năng vẫn còn thận trọng, đôi khi quá cứng về thủ tục, làm kéo dài thời gian xử lý hồ sơ nghiên cứu. Bộ máy chưa đủ tinh gọn cũng ảnh hưởng phần nào đến tốc độ triển khai các hoạt động KH&CN. Trong bối cảnh yêu cầu đổi mới, ứng dụng và phát triển công nghệ cao đang thay đổi từng ngày, sự chậm trễ trong khâu tham mưu và xử lý thủ tục có thể tạo ra lực cản đáng kể đối với các hoạt động nghiên cứu của Học viện.
Những hạn chế nêu trên cho thấy mặc dù Học viện đã có bước tiến về KH&CN trong năm 2025, nhưng để đáp ứng các mục tiêu lớn mà Đảng, Nhà nước và Ngành đặt ra, đặc biệt là yêu cầu của Đề án phát triển Học viện, chúng ta cần phải có những giải pháp trọng tâm hơn, đồng bộ hơn, nhằm khơi thông những điểm nghẽn và tạo động lực mạnh mẽ hơn cho hoạt động nghiên cứu của Học viện.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KH&CN TRONG THỜI GIAN TỚI
Từ những hạn chế đã phân tích, có thể thấy việc thúc đẩy KH&CN trong Học viện đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, có chiều sâu và mang tính đổi mới thực chất. Vì vậy, theo tác giả, thời gian tới nên tập trung triển khai một số định hướng trọng tâm sau:
Một là, xây dựng cơ chế tự chủ và chính sách đãi ngộ đặc thù: Học viện cần đẩy mạnh xây dựng cơ chế tự chủ trong phạm vi được phép, tạo nền tảng pháp lý và tổ chức để chủ động hơn trong phân bổ nguồn lực và triển khai các chính sách mới về KH&CN. Trên cơ sở đó, cần nghiên cứu xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù đối với đội ngũ cán bộ có học vị cao, nhằm giúp họ yên tâm tập trung vào nghiên cứu chuyên sâu thay vì bị phân tán thời gian bởi các nhiệm vụ quản lý. Đây là lực lượng tinh hoa có vai trò dẫn dắt học thuật; nếu được tạo điều kiện làm nghiên cứu đúng nghĩa, họ sẽ tạo ra những công bố và sản phẩm khoa học chất lượng cao. Trong số các giải pháp ưu tiên, Học viện nên xem xét áp dụng mức phụ cấp đặc thù tối thiểu 05 tháng lương cơ bản mỗi tháng cho những cán bộ khoa học chủ lực, có uy tín và thực sự dẫn dắt trong lĩnh vực của mình. Chính sách này vừa thể hiện sự trân trọng của Học viện đối với đội ngũ tinh hoa, vừa tạo động lực để họ cống hiến trọn vẹn cho công tác nghiên cứu, qua đó nâng cao vị thế khoa học của Học viện.
.png)
Học viện KTMM tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về Mật mã và An toàn thông tin lần thứ II - VCRIS 2025
Hai là, vận dụng linh hoạt cơ chế quản lý nghiên cứu, từng bước tiệm cận phương thức khoán sản phẩm. Trên cơ sở tuân thủ các quy định chung của Ban Cơ yếu Chính phủ, Học viện nên nghiên cứu cách thức vận hành phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW: chuyển trọng tâm từ kiểm soát quá trình sang đánh giá kết quả đầu ra. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ, tinh gọn các bước trung gian và tăng cường quyền tự chủ cho chủ nhiệm đề tài trong việc triển khai nội dung chuyên môn sẽ giúp giảm áp lực hành chính. Đây là bước đi cần thiết để tạo môi trường linh hoạt, giúp các nhà khoa học tập trung tối đa cho những sáng tạo đặc thù mang tính giải pháp và sản phẩm công nghệ thực chất.
Ba là, cần nâng cao vai trò hỗ trợ của các phòng ban chức năng, coi đây là “hậu phương mạnh” giúp hoạt động KH&CN vận hành thông suốt. Trong thực tế, một đề tài chỉ triển khai hiệu quả khi các khâu tổ chức, hành chính, tài chính, vật tư... được xử lý kịp thời. Mọi sự chậm trễ ở tầng hỗ trợ đều ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và chất lượng nghiên cứu. Do đó, các đơn vị tham mưu cần tinh gọn quy trình, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tăng cường phối hợp chặt chẽ với các nhóm nghiên cứu. Một hệ thống hành chính thông thoáng, minh bạch sẽ giải phóng đáng kể quỹ thời gian của nhà khoa học, tạo điều kiện để họ tập trung chuyên sâu cho học thuật. Quan trọng hơn, cần nhận thức rõ thành tích KH&CN không phải kết quả riêng lẻ mà là thành quả chung của toàn Học viện. Từ phòng, ban tham mưu đến cán bộ trực tiếp nghiên cứu - tất cả đều là những mắt xích của một hệ thống. Khi “hậu phương” đồng hành và thấu hiểu “tuyến đầu”, Học viện KTMM sẽ tạo nên sức mạnh tổng thể để phát triển bền vững và hiệu quả.
Bốn là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và trao đổi học thuật để nâng tầm hoạt động KH&CN: Học viện cần chủ động mở rộng mạng lưới liên kết với các đại học, viện nghiên cứu và chuyên gia công nghệ hàng đầu thông qua các chương trình nghiên cứu chung và diễn đàn học thuật chuyên sâu. Việc tạo điều kiện cho cán bộ tham gia vào các mạng lưới tri thức toàn cầu không chỉ giúp cập nhật xu hướng công nghệ mới nhất mà còn là cơ hội khẳng định năng lực nghiên cứu của Học viện trên trường quốc tế. Song song đó, cần chú trọng xây dựng đội ngũ kế cận thông qua cơ chế “người đi trước dẫn dắt người đi sau” và duy trì sinh hoạt tại các nhóm nghiên cứu chuyên sâu. Sự giao thoa giữa kinh nghiệm thực tiễn, tư duy trẻ sáng tạo và nguồn lực hợp tác bên ngoài chính là hạt nhân quan trọng để hình thành nên các hướng nghiên cứu mạnh, đưa sản phẩm KH&CN của Học viện vươn tầm chuẩn mực quốc tế.
KẾT LUẬN
KH&CN là động lực cốt lõi quyết định sự phát triển bền vững và uy tín của Học viện KTMM. Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi Đề án phát triển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hướng tới mục tiêu trở thành đại học đổi mới sáng tạo vào năm 2045. Với tinh thần đó, Học viện cần cam kết đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ: từ cơ chế quản lý, tổ chức triển khai đến việc xây dựng đội ngũ và phát huy vai trò hỗ trợ của các đơn vị chức năng. Việc kiên trì theo đuổi con đường phát triển bài bản, chiến lược, coi KH&CN là nhiệm vụ trung tâm và xuyên suốt sẽ là chìa khóa để Học viện KTMM bứt phá, khẳng định vị thế trong kỷ nguyên số và đóng góp thiết thực cho sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.
[Quý độc giả đón đọc Tạp chí An toàn thông tin số 2 (090) 2026 tại đây].
