An toàn bảo mật là điều kiện cốt lõi để mở khóa thanh khoản cho tài sản mã hóa

13:41 | 20/07/2026

Sự phát triển của thị trường token hóa tài sản thực (RWA) và tài sản số không thể chỉ dựa vào khả năng số hóa tài sản hay đưa giao dịch lên môi trường số. Nền tảng của thị trường còn nằm ở khả năng xác thực tài sản, bảo vệ giao dịch và nhận diện tin cậy các chủ thể tham gia. Đặt ra yêu cầu tốc độ phát triển của tài sản mã hóa phải đi cùng năng lực bảo vệ người dùng. An toàn, bảo mật và quản trị rủi ro cần trở thành yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ hệ sinh thái, tạo nền tảng để thị trường vận hành minh bạch, tin cậy và phát triển bền vững.

Hội nghị Vietnam RWA Summit 2026 diễn ra trong hai ngày 18 - 19/7 tại Hà Nội, quy tụ hơn 5.000 đại biểu đến từ các cơ quan lập pháp, quản lý nhà nước như Quốc hội, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ban Cơ yếu Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ,... cùng đại diện các doanh nghiệp công nghệ, định chế tài chính lớn trong và ngoài nước. Chương trình đã tập trung thảo luận, góp ý hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng vận hành, bảo đảm an toàn hệ thống và mở rộng ứng dụng công nghệ Blockchain trong nền kinh tế thực.

Trong Phiên làm việc thứ hai về chủ đề “Chìa khóa đột phá thanh khoản”, các tham luận chia sẻ và nội dung thảo luận xoay quanh giải pháp mã hóa, định giá, lưu ký, giao dịch on-chain, hợp tác đa phương và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó, an toàn bảo mật được xác định là điều kiện cốt lõi để thanh khoản có thể hình thành bền vững, từ xác thực tài sản, định danh chủ thể, quản lý khóa mật mã đến bảo vệ dữ liệu, giao dịch và nhà đầu tư.

Bảo mật phải được thiết kế từ nền tảng

Phát biểu khai mạc, Thiếu tướng, TS. Hồ Văn Hương, Phó Trưởng ban Ban Cơ yếu Chính phủ cho biết, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu, nền tảng số và các hệ thống thông tin đã trở thành tài sản quan trọng của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Bảo đảm an toàn tài sản số không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật mà còn là yếu tố cốt lõi để bảo vệ chủ quyền số, bảo đảm an ninh quốc gia, củng cố niềm tin số và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Thiếu tướng, TS. Hồ Văn Hương, Phó Trưởng ban Ban Cơ yếu Chính phủ phát biểu khai mạc phiên thứ 2 với chủ đề “Chìa khóa đột phá thanh khoản” 

Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu, tiêu biểu như Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025; cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn về bảo vệ hệ thống thông tin, chữ ký số, mật mã dân sự và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đặc biệt, Luật Công nghiệp công nghệ số đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ số, khuyến khích nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ số, đồng thời tăng cường các yêu cầu về bảo đảm an toàn, an ninh mạng, an toàn dữ liệu và phát triển hệ sinh thái số an toàn, tin cậy. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ tài sản số trong các cơ quan nhà nước, tổ chức và doanh nghiệp.

Thiếu tướng, TS. Hồ Văn Hương nhấn mạnh, trong thời gian tới Ban Cơ yếu Chính phủ sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu nhằm xây dựng hệ sinh thái an toàn tài sản số đồng bộ, hiện đại, an toàn và tin cậy; góp phần bảo vệ chủ quyền số quốc gia, bảo đảm an ninh quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn mới.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - tiền tệ Quốc gia, nhận định sự phát triển nhanh của thị trường tài sản mã hóa đang kéo theo nhiều nhóm rủi ro, từ pháp lý, quyền sở hữu, công nghệ, an ninh mạng đến thanh khoản, định giá, rửa tiền và khả năng lan truyền sang hệ thống tài chính truyền thống. Do đó, tài sản mã hóa cần được phân loại và quản lý theo bản chất kinh tế, mức độ rủi ro, thay vì áp dụng một khuôn khổ chung. 

Các tổ chức cung cấp dịch vụ cần bảo đảm tách bạch tài sản khách hàng, minh bạch dự trữ, tăng cường quản trị thanh khoản và có phương án xử lý khi mất khả năng thanh toán. Cơ chế phối hợp liên ngành và chia sẻ thông tin xuyên biên giới cần được củng cố để hạn chế khoảng trống giám sát trong một thị trường có tính xuyên biên giới cao.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - tiền tệ Quốc gia chia sẻ về quản trị rủi ro trên thị trường tài sản mã hóa

Hạ tầng tin cậy quyết định khả năng mở rộng thanh khoản

Từ kinh nghiệm triển khai quốc tế, ông Francesco Ranieri Fabracci, Giám đốc Phát triển mảng mã hóa của Tether, phân tích quá trình chuyển dịch từ Stablecoin sang thị trường vốn được mã hóa. Sự phổ biến của Stablecoin cho thấy một tài sản tài chính có thể được phát hành và lưu chuyển trên Blockchain với quy mô lớn.

Tuy nhiên, việc mở rộng mô hình này sang trái phiếu, quỹ đầu tư, bất động sản hay hàng hóa đòi hỏi hệ thống phải xử lý đồng thời quyền sở hữu, tuân thủ, bảo mật và khả năng kết nối với các định chế tài chính.

Ông Francesco Ranieri Fabracci, Giám đốc Phát triển mảng mã hóa của Tether, phát biểu đưa ra góc nhìn về về hạ tầng phục vụ thị trường vốn được mã hóa (Ảnh: BTC)

“Tốc độ giao dịch cao hơn cũng đồng nghĩa với việc thời gian phát hiện và xử lý sự cố bị thu hẹp. Do đó, các yêu cầu về danh tính, quyền truy cập, kiểm soát giao dịch và tuân thủ không thể được thực hiện thủ công sau khi giao dịch đã phát sinh. Những quy tắc này cần được tích hợp trực tiếp vào kiến trúc nền tảng và vòng đời của mã”, ông Fabracci nhấn mạnh.

Đại diện của Tether dẫn chứng thực tế từ Hadron, một nền tảng của Tether cho phép quản lý toàn bộ vòng đời của tài sản được mã hoá, từ phát hành, quản lý đến chuyển nhượng. Hệ thống được thiết kế với các cấu phần về tuân thủ, bảo mật cấp tổ chức, khả năng tích hợp qua API và vận hành trên nhiều mạng Blockchain, giúp giảm quy mô đầu tư tối thiểu, số hóa quy trình nhận biết khách hàng, rút ngắn thời gian thanh toán từ T+2 hoặc T+3 xuống gần như tức thời và tăng khả năng theo dõi tài sản theo thời gian thực. 

Tiếp nối góc nhìn này, ông SB Seker, Giám đốc Khu vực APAC, Binance, đã chỉ ra các điều kiện để xây dựng hệ sinh thái tài chính số tin cậy. Ông cho rằng đổi mới chỉ có thể mở rộng khi được đặt trên một hạ tầng thị trường đủ tin cậy, nơi người dùng, tổ chức tài chính và cơ quan quản lý cùng có niềm tin vào cách thức vận hành.

Ông SB Seker, Giám đốc Khu vực APAC, Binance chỉ ra các điều kiện để xây dựng hệ sinh thái tài chính số tin cậy (Ảnh: BTC)

Theo ông SB Seker, dù mỗi quốc gia lựa chọn một mô hình quản lý khác nhau, các nguyên tắc cốt lõi vẫn hội tụ ở sự rõ ràng pháp lý, trung lập về công nghệ, quản trị rủi ro, bảo vệ người dùng và duy trì tính toàn vẹn của thị trường.

Đối với Việt Nam, ông SB Seker cho rằng Nghị quyết 05/2025/NQ-CP cùng các trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và TP.HCM tạo điều kiện để chuyển từ xây dựng khuôn khổ sang phát triển thị trường. Đáng chú ý, Trung tâm tài chính quốc tế Đà Nẵng đang định hướng token hóa gần 4 tỷ USD các dự án hạ tầng, qua đó mở thêm kênh kết nối vốn quốc tế với tài sản và nhu cầu đầu tư trong nền kinh tế thực.

Từ góc độ ứng dụng, mô hình vàng mã hóa BIGOD được đưa ra như một trường hợp điển hình về kết nối giữa tài sản bảo chứng, hạ tầng Blockchain và các nhu cầu sử dụng trên thị trường. Theo bà Mahek Kewlani, Giám đốc khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA), BIGOD, mỗi mã được gắn với vàng vật chất, đồng thời hệ sinh thái hướng tới các chức năng như giao dịch OTC, trao đổi ngang hàng, ký quỹ, thanh toán và thương mại điện tử. 

Cách tiếp cận này cho thấy giá trị của RWA không dừng ở việc tạo ra một bản ghi số đại diện cho tài sản. Để mã có thể được sử dụng và lưu chuyển, thị trường cần đảm bảo khả năng đối chiếu với tài sản cơ sở, cơ chế lưu in ký, kiểm toán và xác minh độc lập, cùng mạng lưới đối tác và người dùng đủ lớn. An toàn vì thế bao gồm cả an toàn công nghệ, an toàn tài sản bảo chứng và sự minh bạch trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.

Bà Mahek Kewlani chia sẻ về tiềm năng của vàng mã hoá (Ảnh: BTC)

Kiểm soát rủi ro xuyên suốt vòng đời tài sản mã hóa

Mặc dù có sự khác biệt về quan điểm đối với lớp tài sản mới là RWA và tài sản mã hoá, nhưng các chuyên gia đều đồng quan điểm về việc kiểm soát rủi ro xuyên suốt vòng đời sản tài sản mã hoá là ưu tiên hàng đầu. 

Các chuyên gia tại Phiên thảo luận “An toàn tài sản số: Từ thị trường truyền thống đến giao dịch on-chain trong kỷ nguyên AI” (Ảnh: BTC)

Tại Phiên thảo luận “An toàn tài sản số: Từ thị trường truyền thống đến giao dịch on-chain trong kỷ nguyên AI”, ông Varun Chugh, Cố vấn Tài chính BIGOD, cho biết doanh nghiệp phân bổ lưu ký vàng tại nhiều quốc gia, tách pháp nhân nắm giữ vàng vật chất khỏi pháp nhân phát hành token, đồng thời thực hiện xác minh bảo mật và kiểm toán độc lập nhằm hạn chế sự cố ở tầng token ảnh hưởng đến tài sản cơ sở.

Từ lớp tài sản, ông Marc Krisjanou, Nhà sáng lập kiêm Cố vấn Tài chính Zanarc, lưu ý các tiêu chuẩn như ISO 27001 hay SOC 2 mới bao phủ những kiểm soát an ninh mạng nền tảng, chưa xử lý đầy đủ đặc thù của blockchain như quản lý khóa, ví đa chữ ký, cầu nối và tính bất biến của giao dịch. Các nền tảng vì vậy cần áp dụng thêm tiêu chuẩn chuyên biệt cho Web3, đồng thời kiểm soát rủi ro khi AI được sử dụng trong phát triển mã nguồn, ký giao dịch, vận hành hệ thống và quản lý nhà cung cấp. 

Ở cấp độ mã nguồn, ông John Kiew, Giám đốc Phát triển Kinh doanh khu vực Đông Nam Á, CertiK, nhấn mạnh kiểm toán hợp đồng thông minh không thể giải quyết mọi rủi ro, bởi hoạt động này chủ yếu phát hiện lỗ hổng trước khi triển khai. Dự án cần được xác minh về đội ngũ, mức độ minh bạch, công khai kết quả kiểm toán và tái kiểm toán khi có thay đổi triển khai lớn. 

Từ góc độ vận hành, ông Dư Công Thành, Giám đốc Phát triển Thị trường Global, SotaTek, cho rằng hệ thống cần được xây dựng trên hạ tầng cấp độ doanh nghiệp, phân định rõ dữ liệu on-chain và off-chain, quyền truy cập và trách nhiệm giữa các bên. Cùng với khả năng mở rộng, tính sẵn sàng cao, sao lưu và phục hồi sự cố, hệ thống phải đảm bảo khả năng kiểm toán, truy xuất và thích ứng khi mạng lưới hoặc hợp đồng thông minh được nâng cấp. 

Để lại bình luận