Mật mã thúc đẩy sự ra đời của máy tính

Nếu hình dung cả nhân loại như một cơ thể, thì phát minh ra lửa đã đưa cơ thể đó từ hoang dã lên văn minh, máy hơi nước đã bổ sung vào cơ thể đó hệ thống cơ bắp, còn máy tính cho nó bộ óc. Đánh giá này đã gián tiếp ghi nhận vai trò của mật mã trong việc thúc đẩy một trong những phát minh vĩ đại nhất của con người.

Thuật toán mới giúp tăng tốc độ nhân các số lớn

Hai nhà toán học từ Úc và Pháp vừa tìm ra một cách mới để nhân các số lớn nhanh hơn, giúp giải quyết một bài toán đã làm đau đầu các nhà toán học trong gần nửa thế kỷ.

An algorithm for evaluating the linear redundancy and the factor of inertial groups of S-box

Abstract— This paper presents an algorithm for evaluating the linear redundancy and the factor of inertial groups with small computational complexity. Specifically, the article introduces the concept of the factor of inertial groups, the relationship between the factor of inertial groups and the linear redundancy of S-box. Thus, it is recommended to use S-boxes that do not possess linear redundancy and have the factor of inertial groups equal to 1 to have better cryptographic properties, and also provide an algorithm for searching such large size S-boxes.

Đánh giá chính xác cận an toàn cho mã xác thực LightMAC

Tóm tắt— LightMAC là mã xác thực thông điệp được Atul Luykx đề xuất sử dụng trong các môi trường có tài nguyên hạn chế và có cận an toàn không phụ thuộc vào độ dài thông điệp. Thuật toán LightMAC sinh ra nhãn xác thực có độ dài tùy theo yêu cầu của người sử dụng. Tuy nhiên, đánh giá an toàn trong [1] lại sử dụng trực tiếp kết quả dành cho độ dài nhãn xác thực bằng kích cỡ mã khối cơ sở của Dodis [2]. Trong bài báo này, đầu tiên, chúng tôi đánh giá cận an toàn của mã xác thực LightMAC trong trường hợp độ dài nhãn xác thực nhỏ hơn kích cỡ của mã khối cơ sở. Sau đó, sự phụ thuộc vào độ dài thông điệp trong cận an toàn của LightMAC được xem xét lại.

How secure is the Advanced Encryption Standard with random ShiftRows against Fault Analysis

Abstract— With the approve of the cryptographic algorithm Rijndael as the AES (Advanced Encryption Standard) and a collection of works exists with the purpose that one or several of its internal functions depend on the selected key. In this work we will study a fault analysis model against the algorithm AES, and then we will analyze for dynamic (in the key-dependency sense) cryptographic algorithms based on AES, in the which ones the internal function ShiftRows is randomly selected in every round, how strong is this attack.

Một số phân tích an toàn về đặc điểm thiết kế của chế độ EME2

Bài báo này phân tích về đặc điểm thiết kế của EME2. Các phân tích được đưa ra dựa vào sự cần thiết của các thành phần: hàm biến đổi dữ liệu liên kết, phép cộng XOR liên kết sự phụ thuộc các biến và phép mã hóa thêm vào khi đầu vào không chẵn khối. Ngoài ra, bài báo cũng đưa ra chứng minh tính không phân biệt được của hàm biến đổi dữ liệu liên kết với một họ hàm giả ngẫu nhiên. Từ đó, kết hợp với các kết quả đã có [4], bài báo cung cấp cho người đọc cách nhìn khá đầy đủ về đặc điểm thiết kế của EME2.

Cách dùng an toàn bộ sinh số giả ngẫu nhiên Dual EC trong TLS

CSKH-02.2017 - (Tóm tắt) Trong [1] và [5], các tác giả đã chỉ ra các tấn công lên TLS mà sử dụng bộ sinh số giả ngẫu nhiên Dual EC với giả định kẻ tấn công biết hoặc tạo ra các backdoor trong bộ sinh này. Các tấn công trong [1] và [5] không những có thể khôi phục được các giá trị giả ngẫu nhiên đã được tạo ra bằng bộ sinh Dual EC mà các tấn công này còn có thể biết được các giá trị đầu ra tiếp theo. Trong bài báo này, chúng đề xuất hai phương thức thực hiện vẫn có thể sử dụng bộ sinh Dual EC nhưng tránh được các tấn công kể trên. Cụ thể, đề xuất thứ nhất của chúng tôi nhằm tránh tồn tại backdoor trong bộ sinh Dual EC. Trong khi đó, đề xuất còn lại có thể tránh được các tấn công cho dù tồn tại backdoor và kẻ tấn công biết được backdoor đó.

Evaluating pseudorandomness and superpseudorandomness of the iterative scheme to build SPN block cipher

CSKH-02.2017 - (Tóm tắt) Trong bài báo này, chúng tôi đưa ra lược đồ lặp gọi là lược đồ V dùng để xây dựng mã khối. Sau đó, đưa ra các kết quả đánh giá tính giả ngẫu nhiên và siêu giả ngẫu nhiên của lược đồ này được đưa ra dựa trên kỹ thuật hệ số H của Patarin. Trong đó, tính giả ngẫu nhiên của lược đồ đạt được khi số vòng của lược đồ là lớn hơn hoặc bằng 3. Đối với tính siêu giả ngẫu nhiên, chúng tôi đã chứng minh lược đồ đạt được khi số vòng lớn hơn hoặc bằng 5; còn khi số vòng bằng 4 chúng tôi chưa giải quyết được trong bài báo này.

Một tinh chỉnh hiệu quả cho Bộ tạo dãy giả ngẫu nhiên Massey-Rueppel hướng phần cứng

CSKH-02.2017 - (Tóm tắt) Các số và các dãy ngẫu nhiên đóng một vai trò quan trọng trong mật mã. Để tạo một nguồn ngẫu nhiên vật lý thường khá tốn kém, do đó hầu hết các hệ thống hiện nay đều sử dụng các bộ sinh số giả ngẫu nhiên. Bộ tạo dãy giả ngẫu nhiên Massey-Rueppel được công bố vào năm 1984 là một trong những bộ tạo số giả ngẫu nhiên sử dụng thanh ghi dịch phản hồi tuyến tính được sử dụng rộng rãi do tính hiệu quả và đáp ứng đầy đủ các tính chất mật mã. Tuy nhiên, khi cấu hình phần cứng thì bộ tạo này chỉ thực sự hiệu quả khi số các hệ số khác 0 trong đa thức đặc trưng của nó là nhỏ. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một tinh chỉnh nhằm cải thiện hiệu suất thực thi khi cấu hình phần cứng mà không cần quan tâm đến các hệ số của đa thức đặc trưng.

Parameterization of Edwards curves on the rational field Q with given torsion subgroups

CSKH-02.2017 - (Tóm tắt) Để mở rộng nghiên cứu của Harold Edwards về một dạng chuẩn tắc mới cho các đường cong elliptic, Bernstein cùng cộng sự đã tổng quát hóa một lớp các đường cong, gọi là các đường cong Edwards cuộn, định nghĩa trên trường k có đặc số khác 2 cho bởi phương trình ax^2+y^2=1+dx^2 y^2, trong đó a,d∈k\{0},a≠d. Trong kết quả chính của bài báo này, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp của Bernstein và cộng sự để tham số hóa đường cong Edwards với nhóm con xoắn đã biết là Z/4Z, Z/8Z, hoặc Z/2Z×Z/4Z trên trường Q.

Các tin khác