Gửi lúc: 19/12/2011 15:02:34
Bookmark and Share

Quốc hội thông qua Luật Cơ yếu

Ngày 26/11/2011, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Cơ yếu và ngày 07/12/2011, Chủ tịch nước ký Lệnh số 14/2011/L-CTN về việc công bố Luật Cơ yếu. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2012.

Lễ công bố Luật cơ yếu tại Văn phòng Chủ tịch nước (22/11/2011)

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 12/9/1945 tổ chức Mật mã đầu tiên đã được thành lập (sau này được đổi tên là Cơ yếu). Hơn 65 năm qua, ngành Cơ yếu Việt Nam luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của Đảng và Nhà nước. Nhiều chỉ thị, nghị quyết quản lý, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác Cơ yếu được ban hành  phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam và đã được thể chế hoá; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế, quy định, chế độ công tác về Cơ yếu đã được thực hiện. Tuy nhiên, một số quan điểm, đường lối, chính sách mới của Đảng về công tác Cơ yếu vẫn chưa được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Cơ yếu còn bộc lộ một số bất cập trước yêu cầu bảo mật và an toàn thông tin trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế. Mặt khác, một số văn bản luật như: Luật Công an, Luật An ninh Quốc gia, Pháp lệnh Tình báo, Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin v.v... có một số quy định liên quan đến hoạt động mật mã nhưng chưa thực sự đầy đủ và cụ thể, làm hạn chế việc tổ chức thực hiện một số nội dung của các văn bản pháp luật về Cơ yếu.
Bên cạnh đó, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, nguy cơ mất an toàn và lộ thông tin bí mật quốc gia ngày càng gia tăng. Các thế lực thù địch tìm mọi cách tiến hành các hoạt động gián điệp, thực hiện âm mưu thu tin, mã thám, mua chuộc, cài cắm, móc nối để lấy cắp bí mật quốc gia của Việt Nam, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với các hình thức, phương tiện lưu giữ, truyền tải thông tin ngày càng phong phú, nhu cầu sử dụng thông tin ở các cơ quan Đảng và Nhà nước ngày càng tăng, do đó hoạt động Cơ yếu và yêu cầu phát triển công tác Cơ yếu phải được củng cố và phát triển một cách sâu rộng. Thực tế đó đòi hỏi phải hoàn thiện khung pháp luật về Cơ yếu và cần được cụ thể hoá bằng một đạo luật. Vì vậy, việc xây dựng và ban hành Luật Cơ yếu trong tình hình hiện nay là rất cần thiết.
Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XII nhiệm kỳ 2007- 2011 và năm 2008, dự án Luật Cơ yếu dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua theo quy trình một kỳ họp. Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, các ý kiến thảo luận cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành và những nội dung cơ bản của dự thảo Luật Cơ yếu. Tuy nhiên, do còn có nhiều ý kiến khác nhau về vị trí của Ban Cơ yếu Chính phủ nên dự án Luật Cơ yếu chưa được thông qua tại kỳ họp này.
Thực hiện Nghị quyết 07/2011/QH13 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011. Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã báo cáo Quốc hội dự án Luật Cơ yếu và chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Cơ yếu trình Quốc hội thông qua.
Luật Cơ yếu gồm 5 Chương với 38 Điều
Chương I: Những quy định chung, gồm 11 Điều, từ Điều 1 đến Điều 11, quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ và một số vấn đề có tính nguyên tắc chung như: chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển lực lượng Cơ yếu; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của lực lượng Cơ yếu; trách nhiệm quản lý Nhà nước về Cơ yếu; trách nhiệm giúp đỡ lực lượng Cơ yếu; bảo vệ bí mật sản phẩm mật mã, thông tin trong hoạt động Cơ yếu; mã hoá thông tin bí mật Nhà nước; kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Cơ yếu và các hành vi bị nghiêm cấm.
Chương II: Hoạt động mật mã để bảo vệ thông tin bí mật Nhà nước, gồm 8 Điều, từ Điều 12 đến Điều 19, quy định về hoạt động khoa học và công nghệ mật mã, chuyển giao công nghệ mật mã; sản xuất và cung cấp sản phẩm mật mã; nhập khẩu trang thiết bị công nghệ phục vụ hoạt động nghiên cứu, sản xuất sản phẩm mật mã; quy chuẩn kỹ thuật, kiểm định, đánh giá sản phẩm mật mã; quản lý, sử dụng sản phẩm mật mã; triển khai, giải thể mạng liên lạc Cơ yếu; triển khai sản phẩm mật mã bảo vệ thông tin bí mật Nhà nước lưu giữ trong các thiết bị điện tử, tin học và trên mạng viễn thông; bảo đảm an toàn mật mã trong trường hợp khẩn cấp, nguy hiểm.
Chương III : Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của lực lượng Cơ yếu, gồm 3 Điều, từ Điều 20 đến Điều 22, quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cơ yếu; nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Cơ yếu Chính phủ; tổ chức lực lượng Cơ yếu.
Chương IV: Người làm việc trong tổ chức Cơ yếu và chế độ, chính sách đối với người làm việc trong tổ chức Cơ yếu, gồm 14 Điều, từ Điều 23 đến Điều 36, quy định người làm việc trong tổ chức Cơ yếu; nghĩa vụ, trách nhiệm, tuyển chọn, tiêu chuẩn,
hạn tuổi phục vụ, biệt phái người làm công tác Cơ yếu; thời hạn không được tham gia hoạt động mật mã; đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người làm việc trong tổ chức Cơ yếu và chế độ, chính sách đối với người làm công tác Cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi việc; bảo đảm điều kiện hoạt động cho người làm công tác Cơ yếu.
Chương V: Điều khoản thi hành, gồm có 2 Điều, Điều 37 và Điều 38, quy định hiệu lực thi hành của Luật và giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật này.

Những nội dung cơ bản của Luật Cơ yếu
a) Về phạm vi điều chỉnh của Luật
Luật Cơ yếu là một đạo luật chuyên ngành, thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định của pháp luật về Cơ yếu hiện hành và những vấn đề thực tiễn đặt ra. Luật quy định về hoạt động Cơ yếu là hoạt động cơ mật đặc biệt, thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia, sử dụng nghiệp vụ mật mã, kỹ thuật mật mã và các giải pháp có liên quan để bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của lực lượng Cơ yếu; chế độ, chính sách đối với người làm việc trong tổ chức Cơ yếu; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động Cơ yếu.
Đối với hoạt động mật mã để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật Nhà nước, nội dung này quy định 01 khoản tại Điều 21 của Luật để làm căn cứ cho Chính phủ quy định cụ thể và hiện nay hoạt động này đang thực hiện theo quy định tại Nghị định số 73/2007/NĐ - CP ngày 8/5/2007 của Chính phủ.
b) Về trách nhiệm quản lý nhà nước về Cơ yếu: Luật quy định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về Cơ yếu; trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Ban Cơ yếu Chính phủ.
Luật xác định rõ Ban Cơ yếu Chính phủ là cơ quan mật mã quốc gia, cơ quan quản lý chuyên ngành về Cơ yếu đối với các hệ thống tổ chức Cơ yếu trong cả nước, có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Cơ yếu. 
c) Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của lực lượng Cơ yếu: Luật xác định lực lượng Cơ yếu là một trong những lực lượng chuyên trách bảo vệ bí mật nhà nước, có chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về công tác Cơ yếu và thực hiện hoạt động Cơ yếu; góp phần bảo đảm tuyệt đối bí mật, an toàn, chính xác, kịp thời thông tin phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, chỉ đạo, chỉ huy của lực lượng vũ trang nhân dân trong mọi tình huống; chủ động phòng ngừa, tham gia đấu tranh với các hoạt động thám mã gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Theo quy định, tổ chức Cơ yếu thuộc các Bộ, ngành là đầu mối độc lập đặt dưới sự lãnh đạo của cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự chỉ đạo của người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng Cơ yếu và sự quản lý về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của tổ chức Cơ yếu cấp trên.

Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật cơ yếu tại Phiên họp thứ 2 (ngày 26/9/2011)

d) Về người làm việc trong tổ chức Cơ yếu và chế độ chính sách đối với người làm việc trong tổ chức Cơ yếu: Người làm việc trong tổ chức Cơ yếu bao gồm 03 đối tượng là: Người làm công tác Cơ yếu là những người được điều động, biệt phái, bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ của lực lượng Cơ yếu; Người được tuyển chọn để đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ Cơ yếu và Người làm công tác khác trong tổ chức Cơ yếu. Để phù hợp với tính chất đặc thù về tổ chức và tính chất công việc, đảm bảo thực hiện chế độ công tác nghiêm ngặt, thống nhất, chặt chẽ Luật quy định rõ về nghĩa vụ, trách nhiệm, tiêu chuẩn với từng đối tượng trong tổ chức Cơ yếu.


Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội chụp ảnh lưu niệm với thường trực Ban soạn thảo Luật cơ yếu

Trên cơ sở đó, chế độ chính sách đối với người làm việc trong tổ chức Cơ yếu  được quy định tại các Điều 31, 32, 33. Luật quy định người làm việc trong tổ chức Cơ yếu được hưởng các chế độ, chính sách như lực lượng vũ trang (như Quân đội nhân dân), các chế độ, chính sách đặc thù của ngành Cơ yếu và chế độ phụ cấp trách nhiệm bảo vệ cơ mật mật mã (do Chính phủ quy định).

Để thực hiện có hiệu quả Luật Cơ yếu khi Luật có hiệu lực thi hành, Bộ Quốc phòng đang xây dựng kế hoạch triển khai Luật Cơ yếu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, triển khai thi hành Luật Cơ yếu và xây dựng các nghị định của Chính phủ quy định về hướng dẫn thi hành; tổ chức tập huấn về Luật Cơ yếu cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, sử dụng Cơ yếu và cán bộ, nhân viên Cơ yếu trên phạm vi toàn quốc. Đây là công việc đòi hỏi phải có sự nhận thức, hành động thống nhất của tất cả các cấp, các ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức, cán bộ, nhân viên Cơ yếu.

Tạp chí ATTT